Thứ ba, Oct 17th

Bạn đang ở trang: Trang chủ Tổ chức hội Lịch sử hình thành và phát triển Quá trình hình thành Hội Đồng hương huyện Lục Ngạn tại Hà Nội

Quá trình hình thành Hội Đồng hương huyện Lục Ngạn tại Hà Nội

Hội đồng hương Lục Ngạn được thành lập trên cơ sở tách ra hoạt động từ hội đồng hương Lục Nam - Lục Ngạn, quá trình hình thành và phát triển được chia làm 2 giai đoạn:

 

Giai đoạn trước năm 2015

Sau chiến tranh chống Pháp (1954) và sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1975), những người con của quê hương Lục Nam, Lục Ngạn đã thoát ly có một số trở về xây dựng quê hương, một số tiếp tục tham gia công tác hoặc lập nghiệp ở các địa phương khác, trong đó số tham gia công tác ở các cơ quan của Trung ương và Hà Nội,

 


     Bao gồm cả đơn vị quân đội và Công an đóng trên địa bàn Hà Nội khá đông. Trong các cuộc họp, các lớp học, thậm chí đi chơi, đi chợ, nhiều người đã gặp nhau, lúc đầu còn lẻ tẻ, sau đông dần. Mỗi khi gặp nhau tay bắt, mặt mứng, thăm hỏi nhau đủ chuyện và rôm rả nhất, say sưa nhất vẫn là ôn lại những kỷ niệm về quê hương, từ khi còn đi học, còn hoạt động bí mật và cướp chính quyền ở quê. Không ai là không có những kỷ niệm sâu sắc, không thể quên về quê hương, ai cũng nhớ quê hương da diết. Thật đúng như câu hát: “Quê hương nếu ai không nhớ cũng không lớn nỗi thành người”.


 

Khoảng năm 1985, ở Hà Nội đã lác đác có tổ chức Đồng hương của một số tỉnh, huyện bạn. Các cán bộ quê ở Bắc Ninh, Bắc Giang cũng dập dạp bàn đến chuyện thành lập Đồng hương Kinh Bắc. Chị em phụ nữ tỉnh Bắc Giang và một số huyện, trong đó có huyện Lục Nam, Lục Ngạn cũng bàn nhau lập Đồng hương của đoàn thể mình. Trong tình hình đó và xuất phát từ tình yêu quê hương, một số cán bộ, chủ yếu là lớp đàn anh đi trước của huyện Lục Nam, Lục Ngạn đang công tác ở Hà Nội như các ông Phạm Đăng Chấn, Trần Ngọc Dương, Khổng Đình Hạp, Nguyễn Mậu Hiếu tức Chính cụt (người ở Chũ), Phương Minh Nam, Lư Giang, Nguyễn Văn Biên, Ngô Phương tức Bài và các bà Hà Thị Phương Dung, Trần Thị Vinh… vừa đóng góp vào việc thành lập Đồng hương tỉnh, vừa khởi xướng việc thành lập Đồng hương huyện Lục Nam, Lục Ngạn, Sơn Động tại Hà Nội. Chủ trương này được các ông Nguyễn Thanh Bình và Hoàng Quốc Thịnh (tức Châu Đen) nguyên ủy viên Ban cán sự Đảng tỉnh Bắc Giang cử về chỉ đạo phong trào cách mạng của phủ Lục Ngạn hồi tiền khởi nghĩa đồng tình và khuyến khích.

Sau nhiều năm ấp ủ, bàn thảo và chuẩn bị về mọi mặt: tổ chức, nội dung hoạt động và phân công người đi vận động từng đối tượng tham gia… Đến cuộc họp ngày 4/2/1990 tại nhà ông Phạm Đăng Chấn số 22B phố Hai Bà Trưng, Ban liên lạc Đồng hương huyện Lục Nam, Lục Ngạn, Sơn Động mới chính thức thành lập và đi vào hoạt động. Tính đến nay tổ chức Đồng hương của chúng ta đã hoạt động được 20 năm và có thể chia ra làm hai thời kỳ hoạt động: thời kỳ hoạt động từ năm 1990 đến năm 1999 và thời kỳ hoạt động từ năm 2000 đến năm 2010.

I. Thời kỳ hoạt động từ năm 1990 đến năm 1999.

1. Đặc điểm của thời kỳ này là cả Ban liên lạc và các hội viên đều là cán bộ hưu trí, nếu là cán bộ đương chức thì cũng gần đến tuổi hưu và thường đã quen biết nhau ở quê từ khi cùng đi học hoặc cùng hoạt động cách mạng với nhau. Ban liên lạc Đồng hương huyện hầu hết là các bậc đàn anh đi trước gồm các ông Phạm Đăng Chấn, Trần Ngọc Dương, Khổng Đình Hạp, Lư Giang, Phương Minh Nam, Nguyễn Văn Biên, Ngô Phương (Bài), Bùi Danh Lệ, Trần Phương, Lê Thành Bảo và các bà Hà Thị Phương Dung, Trần Thị Vinh, Đặng Thị Hòa, Nguyễn Thị Minh Dương. Do tuổi đã cao, sức khỏe hạn chế nên Trưởng ban liên lạc lúc đầu là ông Phạm Đăng Chấn, sau đó các ông Trần Ngọc Dương, Khổng Đinh Hạp, Ngô Phương (Bài), Nguyễn Văn Biên và bà Hà Thị Phương Dung thay nhau mỗi người làm vài năm rồi nghỉ (đến nay các ông Phạm Đăng Chấn, Trần Ngọc Dương, Ngô Phương (Bài) và Nguyễn Văn Biên đã qua đời). Tuy nhiên, sự hoạt động của hội thời kỳ này rất sôi động, đi vào những vấn đề hết sức cơ bản và có tác dụng đặt nền móng cho sự hoạt động lâu dài.

2. Sau khi thành lập, Ban liên lạc đã họp bàn và thống nhất nhiều vấn đề quan trọng về tổ chức và hoạt động của hội. Về tổ chức, hồi đó trong giấy tờ và lời nói không được dùng chữ “hội” (ông Lê Thành Bảo đã đi gặp ông Phương Minh Nam và ông Nguyễn Văn Biên, cả hai ông đều khuyên không nên gọi là hội), vì vậy tên hội, Ban liên lạc xác định chung chung là “Đồng hương huyện Lục Nam, Lục Ngạn, Sơn Động tại Hà Nội”. Về tính chất và mục đích của hội, theo tài liệu còn giữ lại được có ghi: “Đồng hương là những người sinh ra và lớn lên ở quê hương, nơi chôn rau, cắt rốn, những người ít nhiều đã tham gia cách mạng bảo vệ mảnh đất quê hương Lục Nam, Lục Ngạn, Sơn Động trong thời kỳ chống Nhật, Pháp, Mỹ kế tiếp cho đến nay, hiện đang sinh sống ở Hà Nội, tự giác xin vào Đồng hương để có sự quan tâm chăm sóc, đùm bọc nhau, nhất là những lúc ốm đau, khi gặp khó khăn hoạn nạn và khi qua đời. Mặt khác, tăng cướng mối quan hệ ngày càng mật thiết với mảnh đất quê hương, hướng về quê hương, đóng góp xây dựng quê hương về tinh thần và khi có điều kiện về tài chính cho phép có thể tổ chức tham quan, du lịch, có thể đóng góp phần tài chính xây dựng công trình như Nhà truyền thống, trường học…”. Để có điều kiện hoạt động, Ban liên lạc chủ trương thành lập quỹ của Đồng hương trên cơ sở hội viên đóng hội phí hàng năm và vận động những hội viên có hoạt động kinh tế, có hảo tâm ủng hộ quỹ, đồng thời cử ra Tiểu Ban tài chính gồm ông Khổng Đình Hạp làm trưởng ban, ông Trần Ngọc Dương làm phó ban, bà Trần Thị Vinh làm ủy viên phụ trách thủ quỹ, ông Nguyễn Quốc Thái làm ủy viên phụ trách kế toán, khi bà Vinh nghỉ thì bổ sung bà Nguyễn Thị Minh Dương thay làm ủy viên phụ trách thủ quỹ.

3. Hai năm 1990 và 1991 do số hội viên chưa đông và điều kiện chưa cho phép tổ chức cuộc họp mặt rộng rãi toàn thể hội viên, nhưng Ban liên lạc đã có nhiều hoạt động phong phú và có ý nghĩa đối với quê hương như tổ chức hội thảo tham gia ý kiến vào bản dự thảo lịch sử huyện Lục Nam. Cử người đi cùng ông Nguyễn Thanh Bình về Lục Nam và Chũ thăm các cơ sở Cách mạng cũ và viếng mộ 36 chiến sỹ hy sinh trong trận đánh chiếm đồn Đầm (Chũ), cử một đoàn do ông Khổng Bình Hạp dẫn đầu về quê viếng mộ ông Trịnh Đình Lan (Lan Cường) lão thành cách mạng nhân 49 ngày mất của ông, đại diện Ban liên lạc đến chúc thọ ông Lư Giang tuổi 70…. Đồng thời tích cực chuẩn bị cho cuộc họp toàn thể hội viên sắp tới.

4. Cuộc họp mặt toàn thể hội viên đầu tiên diễn ra vào ngày 9/2/1992 sau tết Nhâm Thân tại hội trường Sở Tư Pháp thành phố Hà Nội. Đây là cuộc họp mặt có ý nghĩa rất quan trọng vì nó là cuộc hợp mặt toàn thể hội viên đầu tiên để mừng Đảng, mừng xuân, mừng thọ những hội viên cao niên, là buổi giao lưu tình cảm quê hương đầu tiên sau nhiều năm xa cách (nhiều người 40-50 năm mới gặp nhau) và cũng là dịp Ban liên lạc Đồng hương huyện Lục Nam, Lục Ngạn, Sơn Động lần đầu tiên ra mắt bà con. Trong cuộc họp mặt này, ông Phạm Đăng Chấn đã báo cáo tình hình thành lập hội, giới thiệu danh sách Ban liên lạc để bà con thông qua (vỗ tay) và phổ biến những nội dung về tổ chức và hoạt động của Hội. Sau đó, các hội viên phát biểu, giao lưu tình cảm. Cuộc họp mặt tuy số hội viên chưa đông, hình thức còn đơn sơ nhưng thật là vui vẻ, đầm ấm, xúc động, đã để lại ấn tượng tốt đẹp trong hội viên và rút được kinh nghiệm cho các cuộc họp mặt sau này. Ông Hoàng Du đã có bài thơ diễn tả cuộc họp mặt này. Xin trích hai đoạn của bài thơ “Đồng Hương”:

“Cây nhờ gốc nẩy cành xanh ngọn

Nước trong xanh bởi trọn nguồn ra

Khác nhau trăm họ, trăm nhà

Đồng hương họp mặt đậm đà tình quê

Chẳng mấy độ đi về chốn cũ

Gặp nhau đây tạm đủ bạn bè

Ngọt bùi nhớ buổi sơn khê

Sông Thương thuyền cũ nhớ về Lục Nam”.

………………

“ Gặp đồng hương mừng vui lắm vẻ

Mừng cho nhau sức khỏe dồi dào

ốm đau, tai nạn thế nào?

Ai người nhiều tuổi thọ cao mấy tuần?

Bạn bè cũ xa gần mừng rỡ,

Người chưa quen gặp gỡ nên quên,

Đồng hương tình nghĩa vẹn tuyền”.

 

Những năm sau, hầu như năm nào cũng tổ chức cuộc họp mặt toàn thể hội viên để mừng Đảng, mừng xuân và giao lưu tình cảm quê hương, tổng kết hoạt động năm cũ và bàn nội dung hoạt động năm mới. Các hoạt động khác như chúc thọ, thăm hỏi nhau khi ốm đau, tiễn đưa nhau khi qua đời cũng được quan tâm tổ chức chu đáo, tận tình. Số lượng hội viên mỗi năm tăng dần, đến năm 1999 thì số lượng hội viên đã lên khoảng 90 người, chia làm 7 tổ, mỗi tổ khoảng trên 10 người (Tổ được chia theo quận, huyện của Hà Nội).

II. Thời kì hoạt động từ năm 2000 đến năm 2010

1. Đặc điểm của thời kỳ này là đã kế thừa được kinh nghiệm tổ chức, hoạt động của 10 năm đã qua; có sự chỉ đạo sát sao hơn của Ban Liên lạc đồng hương tỉnh nhất là đã tiếp nhận được nhiều hội viên là cán bộ đương chức, tuổi còn trẻ, hoạt động trên nhiều lĩnh vực, có cả các nhà doanh nghiệp. Trong hội có cả lớp già, lớp trẻ, có cả cán bộ hưu trí, cán bộ đương chức nên hoạt động có thuận lợi và có phần chuyển biến, tiến bộ hơn. Ban liên lạc đồng hương thời kỳ này hầu hết thuộc lớp thứ hai gồm các ông Vũ Phạm Từ, Lê Thành Bảo, Nguyễn Thành Xuân, Phạm Xuân Thiện, Tống Ngọc Quý và bà Nguyễn Thị Minh Dương; sau khi hợp nhất đồng hương hưu trí và đương chức được bổ sung các ông Nguyễn Văn Tố, Giáp Đình Liễu và bà Vũ Thị Liên, sau đó lại được bổ sung thêm các ông Đặng Kim Cường, Nguyễn Xuân Dược, Nguyễn Đoàn Bồng, Ngô Quang Bắc và Nguyễn Xuân Tòng do ông Phạm Xuân Thiện là trưởng ban.

2. Về tổ chức, năm 2000 thực hiện chủ trương của Ban liên lạc Đồng hương tỉnh về hợp nhất các tổ chức đồng hương hưu trí và đương chức, chúng ta đã tiếp nhận được trên 30 hội viên là cán bộ đương chức, có cả các cháu sinh viên cũng tham gia. Vì vậy, số hội viên thời kỳ này tăng nhanh, năm 1999 có 90 hội viên, tổ chức thành 7 tổ thì năm 2010 đã có khoảng 200 hội viên, tổ chức thành 10 tổ.

Tuy nhiên, số hội viên nói chung tăng nhiều, nhưng người Lục Ngạn tăng rất ít, đặc biệt hội viên người Sơn Động vẫn chưa có ai tham gia. Do đo, năm 2001 Ban liên lạc quyết định báo cáo với Cuộc họp toàn thể hội viên và Ban liên lạc Đồng hương tỉnh cho sửa lại tên của hội cho phù hợp với tình hình thực tế. Từ năm đó (năm 2001) đến nay tên của Hội là “ Hội đồng hương huyện Lục Nam, Lục Ngạn tại Hà Nội” (Không có chữ Sơn Động nữa).

3. Cuộc họp đồng hương hàng năm vào dịp Tết Nguyên Đán thời kỳ này được tổ chức đều đặn, thường xuyên và tốt hơn cả về nội dung và hình thức. Hội viên tham gian đông, có năm 120 người (năm 2005), nhiều ông bà lớn tuổi (trên 80), có người phải chống gậy, ngồi xe lăn cũng tới dự, tinh thần, tình cảm rất vui vẻ, thoải mái, khi ra về còn hẹn nhau sang năm gặp lại.

Ông Trần Phương có lần tâm sự cùng bạn bè: “Mình quê gốc ở Phù Đổng nhưng các cụ lên Lục Nam sinh sống đã nhiều đời rồi nên Lục Nam là quê hương thứ hai, là nơi chôn rau cắt rốn của mình. Hai chữ “Quê hương” và “ Lục Nam” đối với mình nó rất thân thiết, gần gũi, nhiều lúc mình còn thấy nó thiêng liêng nữa. Được gặp bạn bè cùng quê như thế này mình thấy vui thích lắm, không năm nào không tới họp”.


4. Mối quan hệ giữa chúng ta với quê hương ngày càng chặt chẽ. Những năm qua chúng ta  đã có nhiều hoạt động hướng về quê hương như Tổ chức vận động công đức vào việc trùng tu chùa Chàng (năm 2000), cử đại biểu về dự lễ đón nhận bằng di tích lịch sử – văn hóa do nhà nước tặng chùa Chàng (năm 2004) và xã Cương Sơn, Vô Tranh (năm 2005), dự cuộc giao lưu giữa Đồng hương ở Hà Nội, Bắc Giang với quê hương Lục Nam (năm 2005) dự lễ kỷ niệm 50 năm thành lập huyện (năm 2007), vận động quyên góp ủng hộ quê hương bị thiệt hại do bão lũ (năm 2008), về dự lễ hội văn hóa các dân tộc huyện Lục Ngạn (2010), một số nhà doanh nghiệp thời gian qua cũng có sự đóng góp vào việc xây dựng cơ sở vật chất ở quê hương… Ngược lại huyện ủy, Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân và ủy ban MTTQ của hai huyện quê hương cũng quan hệ chặt chẽ với chúng ta, mời chúng ta về dự nhiều cuộc họp, kỷ niệm, lễ hội và đặc biệt năm  nào cũng cử đại biểu ra Hà Nội tham dự cuộc họp mặt đồng hương mừng Xuân với chúng ta, thông báo tình hình Quê hương, tặng quà và tham gia văn nghệ rất vui vẻ, thoải mái. Những hoạt động nói trên đã góp phần làm cho chúng ta và quê hương gàn gũi, gắn bó với nhau hơn.

Ông Nguyễn Bổn sau khi về thăm Lục Nam, Lục Ngạn đã có hai bài thơ Thăm Chữ và Thăm Chàng. Xin trích mấy đoạn:

Bài thơ Thăm Chũ:

“Một vùng đồi núi lắm gieo neo

Sức bật vươn lên xóa đói nghèo

Xuôi ngược muối gừng từng xẻ nửa

Khen ai khéo lái, vững tay chèo?

Nay xanh đất sỏi bạt ngàn cây

Hồng, vải, na dai… trĩu quả sai

Đẹp bức tranh quê ai khéo vẽ

Khác nào gấm vóc nắng ban mai.”

 

Bài thơ Thăm Chàng:

“Về đây thăm lại phố Chàng

Đồi ngô huyện lỵ rồn ràng bước chân

Nơi này chốn cũ tháng năm

Hy sinh gian khổ sáng trong tình người

Thoáng đà sáu chục năm trời

Mà sao vẫn thấy bồi hồi nhớ thương”

……….

“Quê ta sông Lục, núi Huyền

Cờ hồng cách mạng lưu truyền mai sau

Lục Nam huyện mạnh, dân giàu

Sánh vai Lục Ngạn tình sâu nghĩa bền”.

5. Ngoài ra, để có điều kiện hoạt động, hội viên rất quan tâm đến việc xây dựng quỹ hội. Hàng năm. ngoài đóng góp hội phí, hầu như hội viên nào cũng ủng hộ quỹ theo khả năng. Nhờ đó, các hoạt động của hội có thuận lợi hơn và quỹ hội luôn luôn tăng, năm sau tăng hơn năm trước.

Giai đoạn sau năm 2015

Hội đồng hương Lục Ngạn tách ra hoạt động độc lập

Nguồn:hdhlucnamlucngan.com

Thêm bình luận


Mã an ninh
Làm tươi